Liên kết

B2A Lắp đặt Camera Tại Nam Định
Sở giáo dục đào tạo nam định
Phòng khảo thí nam định
Thu viện Violet
Bộ giáo dục và đào tạo

Thư viện ảnh

Ảnh hoạt động
5 photos | 16146 view
Kỷ niệm xưa
5 photos | 16933 view

+ Xem tất cả

Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá thế nào về thông tin trên website này?

Rất đầy đủ và cập nhật

Bình thường

Chưa đầy đủ và thiếu tính cập nhật

Trang nhất » Tin tức » Tuyên truyền- Giáo dục tư tưởng

Gợi ý trả lời Các câu hỏi tìm hiểu về TBT Trường Chinh

Thứ hai - 05/12/2016 10:06
Gợi ý trả lời Các câu hỏi tìm hiểu về TBT Trường Chinh

Gợi ý trả lời Các câu hỏi tìm hiểu về TBT Trường Chinh

Hướng tới kỷ niệm 110 năm ngày sinh cố Tổng Bí thư Trường Chinh (9/2/1907-9/2/2017), Tỉnh Đoàn Nam Định vừa phối hợp phát động cuộc thi tìm hiểu “Đồng chí Trường Chinh-Người con ưu tú của quê hương Nam Định”. Đối tượng dự thi là cán bộ, đoàn viên, thanh thiếu niên và các tầng lớp nhân dân trong toàn tỉnh. Đây là dịp để tuổi trẻ ôn lại thân thế, sự nghiệp và những cống hiến to lớn của cố Tổng Bí thư Trường Chinh đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói chung và quê hương Nam Định nói riêng, khơi dậy lòng tự hào của tuổi trẻ về quê hương đất nước. Dưới đây là câu hỏi và gợi ý trả lời.
Câu 1: Anh (Chị) hãy trình bày những hiểu biết của mình về tiểu sử đồng chí Trường Chinh? Trong cuộc đời hoạt động của mình đồng chí Trường Chinh đã từng giữ các chức vụ gì? Nêu các mốc thời gian cụ thể?
Gợi ý:
* Tiểu sử đồng chí Trường Chinh
- Đồng chí Trường Chinh tên thật là Đặng Xuân Khu - Bút danh Sóng Hồng, sinh ngày 09/02/1907, quê ở làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.
- Đồng chí Trường Chinh xuất thân từ gia đình có truyền thống hiếu học và yêu nước. Ông nội đồng chí là cụ Đặng Xuân Bảng đỗ tiến sĩ đời Tự Đức, văn võ toàn tài, đã làm Án sát Tuần phủ ở các tỉnh như: Quảng Ninh, Thanh Hóa, Hải Dương, sau làm Đô đốc học tỉnh Nam Định. Cụ còn là một nhà nghiên cứu uyên thâm trên nhiều lĩnh vực. Cụ viết nhiều sách như: Sử học bị khảo, Việt sử cương mục tiết yếu, Cổ nhân ngôn hành lục...
Người cha sinh ra đồng chí Trường Chinh là cụ Đặng Xuân Viện, một nhà nho uyên bác nhưng không đỗ đạt. Cụ là nhà khảo cứu giỏi trên nhiều lĩnh vực, là nhà báo, viết cho nhiều tờ báo lớn  xuất bản ở Hà Nội như Nam Phong, Trung Bắc Tân văn, Ngọ báo. Cụ là một nhà trí thức khảng khái, một người yêu nước nồng nàn. Thân mẫu của đồng chí Trường Chinh là Bà Nguyễn Thị Từ một người phụ nữ hiền lành, hết lòng thương yêu, phụng dưỡng chồng con.
- Ngay từ tuổi ấu thơ đồng chí Trường Chinh đã sống trong không khí văn hoá của gia đình. Tiếp thu truyền thống của quê hương và gia đình là tinh thần yêu nước, là cuộc sống trí tuệ và liêm khiết, đồng chí Trường Chinh đã không dừng lại ở đó. Không lặp lại con đường thất bại của cha anh, ông đã quyết đi theo một hướng khác.
- Năm 1925, đồng chí Trường Chinh tham gia phong trào đòi thực dân Pháp ân xá cho nhà yêu nước Phan Bội Châu. Năm 1926, đồng chí Trường Chinh là  một trong những người lãnh đạo cuộc bãi khoá của học sinh các trường Nam Định để truy điệu Phan Chu Trinh. Sau cuộc bãi khóa này đồng chí bị thực dân Pháp đuổi học. 
- Năm 1927, đồng chí Trường Chinh gia nhập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, một tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Đông Dương.
- Năm 1929, đồng chí tham gia cuộc vận động thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương ở Bắc Kỳ.
* Các chức vụ đồng chí Trường Chinh đã đảm nhiệm trong cuộc đời hoạt động:
- Năm 1930, đồng chí Trường Chinh được chỉ định vào Ban Tuyên truyền cổ động Trung ương của Đảng Cộng sản Đông Dương. Cuối năm đó đồng chí bị đế quốc bắt và kết án 12 năm tù cấm cố, đày đi Sơn La.
- Cuối năm 1936, do thắng lợi của Mặt trận Nhân dân Pháp và do phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam đòi quyền tự do dân chủ và thả chính trị phạm, đồng chí được trả lại tự do.
- Từ cuối năm 1936 đến năm 1939, đồng chí hoạt động hợp pháp và nửa hợp pháp ở Hà Nội, là Ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ và đại biểu của Đảng Cộng sản Đông Dương trong Ủy ban Mặt trận Dân chủ Bắc kỳ. Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, đồng chí chuyển vào hoạt động bí mật.
- Năm 1940, đồng chí là chủ bút báo "Giải phóng", cơ quan của Xứ ủy Bắc Kỳ. Tại Hội nghị lần thứ 7 của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, đồng chí được cử vào BCH Trung ương Đảng, là quyền Tổng Bí thư.
- Năm 1941, tại Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng, đồng chí được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương, Trưởng ban Tuyên huấn kiêm chủ bút báo "Cờ giải phóng"  và "Tạp chí Cộng sản", cơ quan Trung ương của Đảng, Trưởng ban Công vận Trung ương.
- Năm 1943, đồng chí bị Toà án binh của thực dân Pháp ở Hà Nội kết án tử hình vắng mặt.
- Năm 1945, đồng chí được Hội nghị  toàn quốc của Đảng  cử  phụ trách Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc và có những đóng góp to lớn cho thành công của Cách mạng Tháng Tám vĩ đại.
- Năm 1951, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II, đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương, là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam (ở Đại hội này, Đảng  Cộng sản Đông Dương được đổi tên là Đảng Lao động Việt  Nam) đến tháng 10 năm 1956.
- Năm 1958, đồng chí làm Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước. 
- Năm 1960, tại Đại hội lần thứ III của Đảng, đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương và Ủy viên Bộ chính trị, phụ trách công tác Quốc hội và công tác tư tưởng của Đảng.
- Năm 1962, đồng chí là Trưởng ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương (đến năm 1982).
- Năm 1976, tại Đại hội lần thứ IV của Đảng, đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (ở Đại hội này, Đảng Lao động Việt Nam được đổi tên là Đảng Cộng sản Việt Nam). Đồng chí là Ủy viên Bộ Chính trị, phụ trách Trưởng ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương và Trưởng ban Lý luận của Trung ương.
- Năm 1976 , đồng chí được bầu làm Chủ tịch Ủy ban dự thảo Hiến pháp của Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam.
Đồng chí là đại biểu Quốc hội khoá II (1960-1964), khoá III (1964 - 1971), khoá IV (1971-1975), khoá V (1975-1976), khoá VI (1976 - 1981), khoá VII (1981 - 1987). Từ khoá II đến khoá VI, đồng chí làm Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Năm 1981, Đồng  chí được Quốc hội bầu làm Chủ tịch Hội đồng Nhà nước và Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Năm 1982, tại Đại hội lần thứ V của Đảng, đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và là Ủy viên Bộ Chính trị.
- Tháng 7-1986, tại Hội nghị đặc biệt Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng chí được bầu lại làm Tổng Bí thư của Đảng.
- Tháng 12-1986, tại Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng, đồng chí được cử làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Trưởng ban soạn thảo cương lĩnh và chiến lược kinh tế kiêm Trưởng Tiểu ban soạn thảo cương lĩnh của Đảng.
- Do những cống hiến to lớn của đồng chí đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và đối với sự nghiệp tăng cường đoàn kết quốc tế, đồng chí đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, huân chương cao quý nhất của Nhà nước Việt Nam và nhiều huân chương khác.
Nhà nước Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết tặng đồng chí Huân chương Lênin và Huân chương Cách mạng Tháng Mười; Nhà nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào tặng Huân chương Vàng quốc gia; Nhà nước Cộng hòa Cuba tặng Huân chương Hôxê Mácti; Nhà nước Cộng hòa dân chủ Đức tặng Huân chương Các Mác…
- Đồng chí mất ngày 30/09/1988, tại Hà Nội.
Câu 2: Anh (Chị) hãy cho biết “Đề cương văn hoá Việt Nam” được viết vào năm nào? Do ai soạn thảo? Nêu những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của “Đề cương văn hoá Việt Nam”?
Gợi ý:   
* Bản “Đề cương Văn hoá Việt Nam” do đồng chí Trường Chinh soạn thảo năm 1943.
* Nội dung cơ bản: Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943 gồm 5 phần
Nội dung phần 1: Đề cương xác định phạm vi văn hóa bao gồm cả tư tưởng, học thuật, nghệ thuật. Văn hóa thuộc kiến trúc thượng tầng được quyết định bởi cơ sở hạ tầng kinh tế. Văn hóa là 1 trong 3 mặt trận: Kinh tế, Chính trị, Văn hóa; cùng với làm cách mạng về chính trị, còn phải làm cách mạng về văn hóa.
Nội dung phần 2: Sau khi chia lịch sử văn hóa Việt Nam thành 3 thời kỳ: Từ thời Quang Trung trở về trước, văn hóa Việt Nam có tính chất nửa phong kiến, nửa nô lệ, phụ thuộc vào văn hóa Trung Quốc. Từ thời Quang Trung đến khi Pháp xâm chiếm là văn hóa phong kiến có xu hướng tiểu tư sản. Từ khi Pháp xâm chiếm đến 1943, văn hóa Việt Nam là văn hóa nửa phong kiến, nửa tư sản và hoàn toàn có tính cách thuộc địa. Đề cương chỉ rõ tính chất văn hóa Việt Nam hiện tại (1943): Về hình thức là thuộc địa, về nội dung là tiền tư bản. Đề cương cũng chỉ rõ do ảnh hưởng của chiến tranh, văn hóa giai đoạn này bị ảnh hưởng tác động của văn hóa phát xít và phong kiến, nhưng đồng thời văn hóa Việt Nam đang có xu hướng chịu ảnh hưởng của văn hóa dân chủ mới, vượt hết mọi trở ngại để nảy nở.
Nội dung phần 3: Đề cương chỉ rõ những nguy cơ của Văn hóa Việt Nam dưới ách phát xít Nhật - Pháp; những thủ đoạn của Nhật - Pháp trói buộc và giết chết văn hóa Việt Nam. Dự kiến về tiền đồ văn hóa Việt Nam, Đề cương khẳng định cách mạng nhất định thắng lợi, văn hóa Việt Nam sẽ được cởi mở xiềng xích, đuổi kịp văn hóa mới, tiến bộ trên thế giới
Nội dung phần 4: Về vấn đề cách mạng văn hóa Việt Nam, Đề cương chỉ rõ quan niệm của người cộng sản về văn hóa: Phải hoàn thành cách mạng văn hóa mới hoàn thành được cuộc cải tạo xã hội. Cách mạng văn hóa muốn hoàn thành phải do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo. Cách mạng văn hóa có thể hoàn thành sau khi cách mạng chính trị thành công. Khẳng định nền văn hóa mà cuộc cách mạng văn hóa Đông Dương thực hiện sẽ là văn hóa xã hội chủ nghĩa.
Đề cương nêu 3 nguyên tắc vận động văn hóa Việt Nam đó là: Dân tộc; Khoa học; Đại chúng. Đề cương cũng chỉ rõ tính chất của nền văn hóa mới Việt Nam trong thời điểm này (1943) do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo là văn hóa có tính chất dân tộc về hình thức và dân chủ mới về nội dung, cách mạng nhất và tiến bộ nhất ở Đông Dương trong giai đoạn này (1943).
Nội dung phần 5: Đề cương nêu ra nhiệm vụ cần kíp của những nhà văn hóa mác xít Đông Dương và Việt Nam trước mắt là: Chống lại văn hóa phát xít phong kiến, thoái bộ, nô dịch, văn hóa ngu dân, phỉnh dân và phát huy văn hóa tân dân chủ Đông Dương. Đồng thời chỉ ra công việc phải làm là: Tranh đấu về học thuyết, tư tưởng, những quan điểm sai lầm của triết học Âu, Á có ít nhiều ảnh hưởng tai hại ở nước ta… làm cho thuyết duy vật biện chứng và duy vật lịch sử thắng; tranh đấu về tông phái văn nghệ, chống chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa tượng trưng… làm cho xu hướng tả thực xã hội chủ nghĩa thắng; tranh đấu về tiếng nói, chữ viết, thống nhất và làm giàu thêm tiếng nói, xác định phong cách văn Việt Nam, cải cách chữ quốc ngữ…
* Giá trị to lớn:
Dưới góc nhìn duy vật biện chứng, Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943 đã xác định rõ nội dung, phạm vi, vai trò của văn hóa trong cuộc cách mạng đấu tranh giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa; khẳng định tính chất của nền văn hóa Việt Nam; đấu tranh với những thủ đoạn nô dịch văn hóa của Nhật Pháp, chỉ rõ xu hướng phát triển tất yếu của văn hóa trong tương lai; nêu lên những chủ trương, quan điểm của Đảng ta về phát triển văn hóa; những nguyên tắc và hình thức, biện pháp cần thiết để đặt nền móng và định hướng xây dựng một nền văn hóa cách mạng mới.
Đề cương Văn hóa Việt Nam là một văn kiện đặt nền móng, mở đường cho việc xây dựng lý luận văn hóa cách mạng ở Việt Nam, là ngọn cờ tập hợp, cổ vũ giới trí thức, văn nghệ sĩ nước nhà hăng hái tham gia sự nghiệp cách mạng do Đảng ta lãnh đạo. Giá trị lý luận và thực tiễn, giá trị tư tưởng và văn hóa của Đề cương được thể hiện ở chỗ lần đầu tiên Đề cương trình bày quan niệm đúng đắn về văn hóa: “Phạm vi vấn đề văn hóa bao gồm cả tư tưởng, học thuật và nghệ thuật”. Vào những năm 40 của thế kỷ XX, trình bày, đưa ra một quan niệm về văn hóa như vậy là sự vượt lên trước tư duy của thời đại ở Việt Nam. Bởi lẽ, khoa học nghiên cứu văn hóa xuất hiện tương đối muộn ở nước ta.
Hơn 70 năm trôi qua, Đảng ta đã có nhiều văn kiện quý báu khác nữa, đã phát triển hoàn thiện đường lối văn hóa, nhưng Đề cương văn hóa Việt Nam vẫn giữ nguyên giá trị lý luận và thực tiễn, tư tưởng và văn hóa của một văn kiện mang tầm vóc cương lĩnh của Đảng.
Câu 3: Đồng chí Trường Chinh có vai trò và vị trí như thế nào trong sự nghiệp đổi mới đất nước?
Gợi ý:
- Nêu tình hình đất nước cuối những năm 70 của thế kỷ XX và những yêu cầu đổi mới.
- Những tìm tòi đổi mới của các địa phương, đơn vị: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh phát triển mạnh kinh tế hộ gia đình; Long An thí điểm cơ chế “mua cao bán cao”  thay cho tem phiếu bù giá vào lương; Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Nghệ Tĩnh… (tên tỉnh lúc đó) thí điểm hình thức khoán
- Sự đổi mới toàn diện của Đảng ta và vai trò, vị trí của đồng chí Trường Chinh
+ Qua khảo sát nhiều nơi, nhiều việc, đồng chí đã đi đến một nhận định: “Phải nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”. Đổi mới chính là bắt đầu từ đây, từ kinh nghiệm thực tế của bản thân mình và của Đảng, đồng chí đã xác định một luận điểm quan trọng: Muốn đổi mới trước hết Đảng và mỗi cán bộ đảng viên phải đổi mới tư duy.
+ Nghị quyết TW lần thứ 6 (khoá IV) năm 1979; Chỉ thị 100 của Ban Bí thư (khoá IV) năm 1981; những điều chỉnh quan trọng của đại hội V của Đảng năm 1982; nhiều Hội nghị Trung ương khoá V, nhất là hội nghị lần thứ 8 (tháng 6/1985) là những kết quả đáng ghi nhận của sự tìm tòi để có được sự xác định cơ bản công cuộc đổi mới. 
+ Từ Hội nghị BCH Trung ương lần thứ 10 khoá V (tháng 7/1986) trên cương vị Tổng Bí thư, đồng chí Trường Chinh đã có vai trò đặc biệt quyết định cùng tập thể Bộ chính trị và BCH Trung ương dốc sức chuẩn bị các văn kiện trình Đại hội VI của Đảng, xác định về cơ bản công cuộc đổi mới đất nước.
+ Đại hội VI của Đảng đã khẳng định công cuộc đổi mới toàn diện nhằm đưa đất nước vượt qua mọi khó khăn thử thách để giành thắng lợi ngày càng to lớn hơn cho độc lập dân tộc vì chủ nghĩa xã hội. Đồng chí Trường Chinh đã có những đóng góp to lớn và có ý nghĩa quyết định vào việc hoạch định công cuộc đổi mới toàn diện ấy.
+ Khẳng đinh vai trò, vị trí của đồng chí Trường Chinh trong đổi mới:  đồng chí Trường Chinh, người đặt viên gạch đổi mới đầu tiên, nhà kiến trúc sư trong việc thiết kế đường lối đổi mới toàn diện của Đảng ta.
Chính nhờ đổi mới tư duy và từng bước hoàn thiện đổi mới trong thực tiễn nên trong hơn 30 năm qua, công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã giành được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Câu 4: Anh (Chị) hãy cho biết tình cảm của đồng chí Trường Chinh với quê hương được thể hiện như thế nào qua những lần đồng chí về thăm quê hương Nam Định?
Gợi ý:
Dù bận rộn công việc chung của cả nước, đồng chí Trường Chinh vẫn hết sức quan tâm, dành thời gian nhiều lần về thăm quê hương, chăm lo tới cuộc  sống và sự phát triển của Đảng bộ và nhân dân Nam Định:
- Tháng 11/1960, lần đầu tiên đồng chí Trường Chinh về thăm quê hương Xuân Trường - Nam Định.
- Tháng 12/ 1971, đồng chí Trường Chinh về Nam Định thăm Nhà máy Liên hợp dệt Nam Định.
- Tháng 2/1972, đồng chí Trường Chinh về dự Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nam Hà lần thứ II. 
- Ngày 10/11/1976, đồng chí Trường Chinh về dự Đại hội Đại biểu tỉnh Hà Nam Ninh lần I (vòng 1).
- Tháng 4 /1977, đồng chí Trường Chinh về dự Đại hội Đại biểu tỉnh Hà Nam Ninh lần I (vòng 2).
- Ngày 19 /01/1980, đồng chí Trường Chinh về thăm và nói chuyện tại nhà máy Liên hợp dệt Nam Định và với Đảng bộ Hà Nam Ninh. 
- Tháng 3/1981, đồng chí về gặp và làm việc với các đồng chí trong ban nghiên cứu Lịch sử Đảng bộ Hà Nam Ninh, đi kiểm tra thực hiện chỉ thị 100/CT-TW ở huyện Hải Hậu và quê hương Xuân Trường.
- Từ ngày 9 đến 11/11/1987, đồng chí về thăm quê hương Hành Thiện, thăm nhà máy Liên Hiệp Dệt Nam Định, Trường Trung học phổ thông Lê Hồng Phong, nói chuyện với đại biểu cán bộ, đảng viên của tỉnh.
Tình cảm của đồng chí với quê hương thể hiện qua:
- Với địa phương Nam Định (Khai thác tiềm năng, kinh tế, đời sống, cách thức khắc phục hạn chế để nâng cao đời sống nhân dân…)
- Với Đảng bộ (Quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên…)
- Với các tầng lớp nhân dân (Quan tâm như thế nào, thăm hỏi tiếp đón ra sao…)
- Với thế hệ trẻ (Quan tâm, động viên, mong mỏi…)
- Với gia đình, dòng họ (Kính trọng, khiêm nhường…)
Câu 5: Theo Anh (Chị) chúng ta cần phải làm gì để học tập và noi gương đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh?
Gợi ý:
- Khẳng định vai trò, công lao to lớn và làm nổi bật những phẩm chất ưu việt của đồng chí Trường Chinh (Nhiệt tình cách mạng; trung thành với Đảng; hết lòng vì nước vì dân; thông minh, sáng tạo, cẩn thận…)
- Khái quát vài nét về xu thế phát triển của thế giới, tình hình đất nước, tình hình trong tỉnh và những yêu cầu đặt ra trong công cuộc xây dựng và phát triển quê hương, đất nước.
- Ở mỗi cương vị công tác, nghề nghiệp, lứa tuổi, người viết sẽ nêu những việc làm cụ thể trong việc học tập và noi gương đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh, góp phần vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Khuyến khích bài viết lồng ghép câu chuyện về gương người tốt, việc tốt ở địa phương, cơ quan, đơn vị.
BAN TỔ CHỨC CUỘC THI

Tác giả bài viết: N.C.H

Tổng số điểm của bài viết là: 20 trong 5 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
09:23 ICT Thứ ba, 24/10/2017

VIDEO

Học sinh thành đạt

Ủng hộ xây dựng trường

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 64
  • Hôm nay: 358
  • Tháng hiện tại: 23569
  • Tổng lượt truy cập: 2635992