CÁC CHUYÊN MỤC

Liên kết

Thiết kế website miễn phí tại B2A
Sở giáo dục đào tạo nam định
Phòng khảo thí nam định
Thu viện Violet
Bộ giáo dục và đào tạo

Thư viện ảnh

Ảnh hoạt động
5 photos | 1494 view
Kỷ niệm xưa
5 photos | 2541 view

+ Xem tất cả

Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá thế nào về thông tin trên website này?

Rất đầy đủ và cập nhật

Bình thường

Chưa đầy đủ và thiếu tính cập nhật

Trang nhất » Tin tức » Tin tức » Tin hoạt động

HƯỚNG TIẾP CẬN NHỮNG BÀI VĂN XUÔI LÃNG MẠN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THPT

Thứ hai - 26/11/2012 09:00
Khoa học hiện đại đã khẳng định rằng: “Đáp số của một bài toán là quan trọng. Nhưng quan trọng hơn cả là con đường đi đến đáp số”. Là một người giáo viên Ngữ Văn, trong quá trình giảng dạy bộ môn, bản thân tôi không tránh khỏi những lúc thấy khó khăn trong việc tìm ra một con đường tiếp cận một tác phẩm văn học sao cho thật phù hợp không chỉ với bản thân mình mà còn với đối tượng học sinh.

HƯỚNG TIẾP CẬN TÁC PHẨM VĂN XUÔI LÃNG MẠN

VIỆT NAM 1930-1945 TRONG TRƯỜNG THPT

I. Dạy học văn xuôi lãng mạn và những khó khăn

Khoa học hiện đại đã khẳng định rằng: “Đáp số của một bài toán là quan trọng. Nhưng quan trọng hơn cả là con đường đi đến đáp số”. Là một người giáo viên Ngữ Văn, trong quá trình giảng dạy bộ môn, bản thân tôi không tránh khỏi những lúc thấy khó khăn trong việc tìm ra một con đường tiếp cận một tác phẩm văn học sao cho thật phù hợp không chỉ với bản thân mình mà còn với đối tượng học sinh.

          Trong chương trình Ngữ Văn lớp 11 thì trào lưu văn học lãng mạn Việt Nam có thể coi là một phần rất quan trọng. Trong quá trình tiếp cận và giảng dạy văn xuôi lãng mạn 1930-1945, tôi nhận thấy một vài khó khăn như sau:

Trong ba loại hình văn học: tự sự, trữ tình, và kịch, thì có thể nói,tự sự là một loại thể tương đối khó, đặc biệt là tự sự hiện đại, trong đó có thể loại truyện ngắn. Truyện ngắn hiện đại nói chung và truyện lãng mạn nói riêng  là sự thể hiện của một kiểu tư duy mới mẻ để phản ánh “một mảnh nhỏ của thế giới”. Nó có những đặc trưng riêng về: cốt truyện, chức năng, kết cấu, bút pháp trần thuật, các chi tiết, điểm nhìn trần thuật, giọng điệu…Tất cả nhằm làm nổi bật những phương diện của một tác phẩm văn học: tầng ngôn từ, tầng hình tượng, tầng nghĩa. Chính vì là sự tập hợp một cách có nghệ thuật của rất nhiều yếu tố nên đọc - hiểu một tác phẩm văn xuôi sẽ rất khó khăn nếu không có sự chia tách rạch ròi và những hướng tiếp cận cụ thể.

Hơn nữa, văn học lãng mạn Việt Nam trong đó có văn xuôi, ra đời vào một thời điểm mà lịch sử, văn hóa, văn học dân tộc có rất nhiều biến động, đổi mới. Vì thế để hiểu đúng và hiểu sâu sắc một tác phẩm không thể không xem xét những yếu tố bên ngoài chi phối đến tác giả, tác phẩm đó.

II. Hướng tiếp cận tác phẩm văn xuôi lãng mạn Việt Nam 1930-1945

1. Từ những vấn đề lí luận chung

Văn chương lóng mạn giai đoạn 1930-1945 với vai trũ dẫn đầu công cuộc đổi mới nền văn chương hiện đại của dân tộc đó tạo nờn một bước ngoặt lớn trong tiến trỡnh lịch sử văn chương Việt Nam. Dạy - học văn chương lóng mạn trước hết cần phải nhận rừ cỏi Mới của nó trên bước đường hiện đại hoá nền văn chương dân tộc trờn cả hai bỡnh diện là nội dung và hỡnh thức nghệ thuật.

Mặt khác cần phải quan tâm đến vấn đề thi pháp của chủ nghĩa lóng mạn. Văn học lóng mạn thuộc loại hỡnh văn học biểu hiện: cỏc nhõn vật, tỡnh huống, hỡnh ảnh được nhà văn sáng tạo ra nhằm thỏa món biểu hiện lớ tưởng và tỡnh cảm mónh liệt của họ. Cỏc nhà văn lóng mạn thườngtỡm kiếm những giỏ trị cao đẹp trong những cảnh đời tầm thường, tăm tối, khám phá những cái cao cả trong những số phận bị ruồng bỏ, chà đạp. Nhân vật của văn học lóng mạn hành động theo sự tưởng tượng chủ quan của nhà văn và trực tiếp biểu hiện lí tưởng của họ. Một số đặc điểm khác của văn học lóng mạn là tự do biểu hiện tỡnh cảm của cỏi tụi cỏ nhõn, những cỏ nhõn cụ đơn sầu mộng. Các nhà văn lón mạn tuyệt đối hóa giá trị của cái tôi cá nhân, đặt nó cao hơn thực tế khách quan của đời sống. văn học lóng mạn cú đặc điểm thứ ba là thường sử dụng các thủ pháp nghệ thuật như tương phản, đối lập, thích phóng đại, khoa trương, sử dụng ngụn ngữ tõn kỡ, giàu sức biểu hiện cảm xỳc.

Vấn đề cá nhân sáng tạo và bút pháp của từng nhà văn, nhà thơ lóng mạn cần phải được chú ý để xác lập trong quá trỡnh dạy - học dũng này.Nú thể hiện ở những tỡm tũi, khỏm phỏ, phỏt hiện riờng của từng nhà văn, nhà thơ trong việc chọn đề tài, nêu vấn đề, sử dụng ngôn ngữ, xây dựng hỡnh tượng, tổ chức cốt truyện, kết cấu tác phẩm vv…Tâm hồn của các nhà văn, nhà thơ lóng mạn là những “ cây đàn muôn điệu” rung lờn bao õm sắc tỡnh đời. Thạch Lam và Nguyễn Tuân cũng là những “điệu” riêng trong đó.

2. Đến những cách tiếp cận riêng với Hai đứa trẻ (Thạch Lam) và Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân)

Để hiểu và dạy- học có hiệu quả các tác phẩm văn học lãng mạn, nhất là truyện ngắn lãng mạn Việt Nam 1930-1945, trong đó có “Hai đứa trẻ” (Thạch Lam) và “Chữ người tử tù” (Nguyễn Tuân), theo tôi, ngoài những phương pháp chung trong dạy học bộ môn, không thể không chú ý đến các phương pháp: phương pháp dạy học văn học sử, phương pháp dạy học theo loại thể và dạy học theo phong cách tác giả.

          Với hai tác phẩm này, xưa nay đã có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau. Dạy học các tác phẩm này, tôi đi theo những định hướng chung như sau:

2.1. Hướng dẫn học sinh tìm hiểu xuất xứ hoặc hoàn cảnh ra đời của tác phẩm

- Hai đứa trẻin trong tập Nắng trong vườn, Nhà xuất bản Đời nay, Hà Nội, năm 1938. Bối cảnh câu chuyện là một phố huyện nghèo nàn, xơ xác có đường tàu đi qua, một ga xép, một cái chợ nhỏ bé nằm giữa thôn xóm và cánh đồng. Hai đứa trẻ được gợi ý từ một mảng đời thơ ấu rất cụ thể của Thạch Lam . Đây là kỉ niệm ấu thơ, nhà văn cùng với chị mỡnh là Nguyễn Thị Thế sống ở phố huyện Cẩm Giàng  (Hải Dương ) bờn cạnh xe lửa Hà Nội – Hải Phũng. Hai chị em Liờn và An chớnh là những gỡ Thạch Lam yờu mến, gắn bú thuở thiếu thời.

- Chữ người tử tù nằm trong tập truyện đầu tay khẳng định vị trí và phong cách Nguyễn Tuân: “Vang bóng một thời”(1940) viết về những nét văn hóa truyền thống có nguy cơ bị mai một, dần đi vào quên lãng trong xã hội cũ mới tranh nhau, Tây Tàu nhố nhăng, mưa Âu gió Mĩ, …Trong những vẻ đẹp của một thời xưa cũ ấy, có cái thú chơi chữ của các nhà Nho, mà Huấn Cao của “Chữ người tử tù” là người tài hoa nhất.

2.2. Hướng dẫn học sinh xác định các yếu tố thuộc về tác phẩm, dựa trên đặc trưng thể loại và phong cách tác giả:

* Cốt truyện

* Bố cục và kết cấu của tác phẩm

* Hệ thống nhân vật, mối quan hệ và nghệ thuật xây dựng các nhân vật

* Hình tượng và bút pháp xây dựng hình tượng: với văn học lãng mạn, nhất là văn xuôi, bao giờ cũng xây dựng hình tượng bằng thủ pháp đối lập, lí tưởng hóa…

* Chủ đề tư tưởng

* Phong cách nhà văn

…….

2.3. Hướng dẫn học sinh lựa chọn một cách tiếp cận riêng đối với mỗi tác phẩm

2.3.1. Với Hai đứa trẻ: Đây là truyện tiêu biểu cho phong cách Thạch Lam, truyện không có cốt truyện, nhưng vẫn xác định được nhân vật và những sự việc chính diễn ra trong câu chuyện. Bố cục của truyện rất rõ ràng:

- Cảnh phố huyện lúc chiều tàn

- Cảnh phố huyện về đêm                       + Tâm trạng của nhân vật Liên

- Cảnh phố huyện khi đoàn tàu đi qua

Như vậy, lần theo cốt truyện, có thể dạy học văn bản này theo từng đoạn. Tuy nhiên, cách dạy này sẽ vấp phải một vấn đề là tư tưởng và bút pháp nghệ thuật của cả 3 đoạn tương đối giống nhau, nên sẽ không thể tránh khỏi việc lặp lai, học sinh sẽ nhàm chán, lẫn lộn. Vì vậy, tôi triển khai nội dung tác phẩm dựa trên hai hình tượng: bức tranh phố huyện và hình tượng hai đứa trẻ. Cụ thể như sau:

- Hoạt động 1: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu bức tranh phố huyện với 2 phương diện: bức tranh thiên nhiên và bức tranh đời sống

+ Bức tranh thiờn nhiờn:  dựa vào yếu tố thời gian, học sinh sẽ nhận ra bức tranh thiên nhiên được miêu tả vào hai thời điểm:

* Lúc chiều tàn:Âm thanh, hình ảnh, màu sắc, đường nét gợi lên sự tàn lụi…

* Lúc đêm tối: Bóng tối là cỏi nền thiờn nhiờn cho bức tranh phố huyện nghốo.

 + Bức tranh đời sống:

* Con người phố huyện:  con người bỡnh thường chỉ xuất hiện thoáng qua, hầu như chỉ như một cái bóng: từ hỡnh ảnh mẹ con chị Tớ, bỏc Siờu, bà cụ Thi… cho đến cả những con người không tên: một vài người bán hàng về muộn, những đứa trẻ con nhà nghèo … hiện lờn bộ nhỏ, tội nghiệp, sống õm thầm, nhẫn nhục, lam lũ. * Nhịp sốngnơi phố huyện: buồn tẻ, quẩn quanh, nhàm chán đơn điệu, không tương lai, không lối thoát.

àTrong quá trình tìm hiểu về bức tranh phố huyện, nhiều người chỉ xem xét đến những chi tiết hiện thực để khắc họa hiện thực cuộc sống nghèo nàn, xơ xác, tiêu điều- hiện thực chung của những làng quê hay thị trấn nhỏ của xã hội Việt Nam trước CMT8. Nhưng bức tranh phố huyện, ngoài những chi tiết hiện thực gần gũi còn có những nét đẹp đẽ thơ mộng. Đó chính là bút pháp lãng mạn của Thạch Lam.

-> Hướng dẫn học sinh tìm ra những thủ pháp lãng mạn được sử dụng để miêu tả bức tranh phố huyện:

- sự hài hòa của các yếu tố trong bức tranh

- những câu văn đầy chất thơ: “Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vàoTrời đã bắt đầu đêm, một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua gió mát”.

- sự xung đột giữa ánh sáng và bóng tối.

+Bóng tối:Học sinh cần tìm được những từ ngữ, hình ảnh miêu tả bóng tối, nhận xét về sự xuất hiện của bóng tối: đen lại, hơi tối, bóng tối ngập đầy dần, đường phố và các ngõ con dần chứa đầy bóng tối…(không dưới 30 lần) Bóng tối ngập tràn và như muốn nhấn chìm những con người nhỏ bé ở nơi đây.

+ ánh sỏng: biểu hiện qua những từ ngữ: vệt sáng của đom đóm, ngụi sao ganh nhau lấp lỏnh trên bầu trời, quầng sỏng nhỏ nhoi nơi ngọn đèn chị Tí, chấm lửa nhỏ nơi bếp bác Siêu, hột sáng nơi ngọn đèn của Liên, ánh đèn lồng của hiệu khách… ánh sáng lẻ loi, yếu ớt.

-> Từ đó, học sinh có thể nhận thấy được Thạch Lam đó sử dụng thủ pháp tương phản của văn học lóng mạn để làm bật lên chủ đề của truyện. Trong bóng tối dày đặc đen nghịt mênh mông, những điểm sáng leo lắt của con người chỉ là những biểu hiện cho sự vươn sống, nhưng cũng chỉ là chứng nhân cho một sự mỏi mũn, yếu ớt như sự mong manh tàn lụi của kiếp người không hơn không kém. Nhưng trong hiện thực đó, nhà văn vẫn nâng niu, trân trọng, không bỏ sót từng chút ánh sáng nào. Đó cũng chính là chất lãng mạn.

* Tình người nơi phố huyện: những con người ở đây không chỉ lầm lũi, nghèo khổ mà còn thật hiền lành và lương thiện, thân mật, quan tâm, đồng cảm với nhau. Họ xích lại gần nhau để cuộc sống của họ bớt hiu quạnh, lẻ loi. Chất lãng mạn chính là tình người đậm đà, ấm áp trong cảnh nghèo.

- Hoạt động 2: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu hỡnh tượng hai đứa trẻ:

+ Hướng dẫn học sinh tìm các chi tiết giới thiệu về nhân vật: Liên và An là hai đứa trẻ bị mất tuổi thơ, sớm bị nhấn vào cuộc mưu sinh của người lớn.

+ Hướng dẫn học sinh tìm hiểu dòng cảm xúc của nhân vật Liên: 

* Trong cảnh chiều tàn và đêm muộn:

          - Lòng buồn man mác trước giờ khắc của ngày tàn.

          - Một mùi âm ẩm bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn với mùi cát bụi quen thuộc quá, khiến chị em Liên tưởng là mùi riêng của đất, của quê hương này.

          - Động lòng thương những đứa trẻ con nhà nghèo

          - Đứn sững nhìn theo bóng dáng lảo đảo của bà cụ Thi điên.

          - Day dứt, trắc ẩn trước cuộc sống của chị Tí, bác Siêu, gia đình bác xẩm…

          - Cảm nhận tinh tế về bức tranh thiên nhiên phố huyện…

-> Thể hiện rừ nhất tinh thần lóng mạn trong Hai đứa trẻ là cảm xúc của nhõn vật Liờn.Trong những cỏi búng nhập nhũa của đời sống phố huyện chỉ hiện diện có một tâm hồn biết sống. Tâm hồn ấy là Liên. Cuộc sống diễn ra trước mắt người khác sẽ lặng lẽ như một thứ ao tù, nhưng tâm hồn tinh tế nhạy cảm của Liên đó tự thấy ở cừi lụi tàn ấy cả một sự sống xụn xao. Đằng sau dáng ngồi bất động và gương mặt ưu phiền của Liên là cả một ”cái tôi” đa cảm và trầm tư của một tõm hồn lóng mạn.

* Trong cảnh đợi tàu:

- Trước khi tàu đến: hồi hộp, náo nức.

- Khi tàu đến: vui sướng, hạnh phúc, mơ mộng.

- Khi tàu đi vào đờm tối: bõng khuõng, luyến tiếc, chờ đợi đến ngày mai…

-> Nhiều trạng thái cảm xúc đan xen lẫn lộn cho thấy một tâm hồn phong phú, nhạy cảm.

- Hoạt động 3: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu các chi tiết tiêu biểu:

+ Ngọn đèn chị Tí

+ Hình ảnh đoàn tàu: đoàn tàu  chất chứa một vẻ đẹp của ngày qua, một trang cổ tích ngày xưa bỏ quên ở Bờ Hồ, nơi hai chị em đó từng ”uống cốc nước lạnh xanh đỏ thần tiên”. Quỏ vóng đó trào lờn muụn sắc hào quang, dự khụng rừ rệt nhưng vẫn hấp dẫn và quyến rũ mờ hồn với những nhân vật lãng mạn.Đoàn tàu với sự khác biêt về âm thanh, ánh sáng, ý nghĩa cũng tạo nên sự tương phản đối lập với phố huyện, làm nên bút pháp lãng mạn của thiên truyện.

- Hoạt động 4: Cung cấp thêm những hiểu biết về con người và văn chương Thạch Lam

+ Tấm lòng đôn hậu, giàu lòng trắc ẩn của Thạch Lam

+ Nét riêng của tác giả: Chất lãng mạn của văn Thạch Lam hoàn toàn khác với chất lãng mạn của những nhà văn trong nhóm Tự lực văn đoàn mà ông là một thành viên. Chất hiện thực kết hợp với chất lãng mạn cũng tạo ra nét riêng của văn Thạch Lam so với các nhà văn hiện thực phê phán.

- Hoạt động 5: Hướng dẫn học sinh khái quát và rút ra những bài học về nhận thức: thông điệp lãng mạn và đầy ý nghĩa: hóy tin tưởng và trân trọng khát vọng của con người, dẫu thực tại cũn đầy bóng tối như không gian của phố huyện nghèo kia nhưng con người dù trong hoàn cảnh nào cũng vẫn hướng về ánh sáng.

2.3.2Chữ người tử tù- Nguyễn Tuân

“Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân cũng là một truyện ngắn viết theo bút pháp lãng mạn trữ tình. Nhưng không chỉ có thế, nếu đặt tác phẩm vào phương pháp loại thể, chúng ta sẽ thấy đây là tác phẩm có sự kết hợp của cả 3 loại hình: tự sự, trữ tình và kịch. Nhất là tính kịch trong truyện, được triển khai gần như từ đầu đến cuối. Kịch tính của “Chữ người tử tù” là sản phẩm của sự đụng độ của những tính cách, và cũng từ đó làm nổi bật chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Vì vậy, dạy học tác phẩm này, hướng đi của tôi là triển khai tính kịch theo trình tự cốt truyện, từ đó làm nổi lên đặc trưng của kịch là những xung đột, làm sáng rõ hai mảng màu đối lập trong bức tranh nhà tù, trong nhân vật Huấn Cao và Quản ngục, trong cảnh cho chữ ở cuối truyện. Từ việc làm rõ bút pháp tương phản đối lập của chủ nghĩa lãng mạn qua từng đoạn và được đẩy lên cao trào trong đoạn cuối, người đọc- người học sẽ nhận ra nghệ thuật lí tưởng hóa đến mức độ tuyệt đối của Nguyễn Tuân. Đó cũng là một đặc trưng của chủ nghĩa lãng mạn và là nét riêng trong phong cách của Nguyễn Tuân.

Từ quan điểm đó, tôi triển khai nội dung dạy học trên dựa trên cốt truyện và bố cục: 3 phần với các nhân vật: Huấn Cao, quản ngục, thầy thơ lại, để từ đó thấy được chất lãng mạn của tác phẩm.

- Hoạt động 1: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu cảnh nhà ngục trước ngày tiếp nhận Huấn Cao: ở đây bút pháp lãng mạn được tập trung ở 2 điểm:

+ Điểm thứ 1 là hình tượng nhân vật Huấn Cao qua lời của quản ngục và thơ lại, qua lời đồn…được xem như một huyền thoại, một viên ngọc không tì vết, một chất vàng mười không lẫn.  Nghệ thuật kể chuyện: gián tiếp giới thiệu về một nhân vật lí tưởng.

+ Điểm thứ 2: những sự tương phản, mâu thuẫn trong chính con người quản ngục. Tìm được những từ ngữ miêu tả hành động, lời nói, thái độ của quản ngục khi nhận được phiến trát, bằng phương pháp phân loại, ta nhận ra 2 con người:

- con người bổn phận (cắt đặt lính canh, nhắc thầy thơ lại, giữ ý với thầy thơ lại, mắng át…)

 - con người nghệ sĩ (trầm trồ thán phục tài viết chữ của Huấn Cao, ngầm ngưỡng vọng dũng khí, day dứt, lo lắng cho Huấn cao, cũng là cho số phận của cái Đẹp).

- Cách thể hiện của tác giả: hai giọng điệu, cách thức đối lập

+ Một đoạn tả lời nói, hành động bên ngoài thì cứng cỏi, mạch lạc.

+ Đoạn sau là giọng nội tâm, khai thác chiều sâu tâm lí, tâm trạng của quản ngục bằng những hình ảnh đẹp, lãng mạn, hàm chứa ý nghĩa sâu xa…

- Hoạt động 2: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu cảnh nhà ngục trong những ngày giam giữ Huấn Cao: để thấymột bước phát triển cao hơn của những xung đột, kịch tính giữa hai nhân vật, và nhất là trong con người quản ngục.

+ Sử dụng phương pháp liệt kê để thấy 1 loạt hành động, lời nói, thái độ thể hiện khí phách của Huấn Cao. Đó là sự hiện thực hóa huyền thoại về Huấn Cao của Nguyễn Tuân.

+ Sử dụng phương pháp và thao tác so sánh để thấy sự tương phản, đối lập hai hình tượng: Huấn Cao (khinh bạc, cứng cỏi,tự do) và quản ngục (dè dặt, khúm núm…).

+ Tìm những suy nghĩ, lời nói, hành động, thái độ của quản ngục để thấy vẻ đẹp tâm hồn của quản ngục (kiêng nể, biệt đãi Huấn Cao, ước vọng xin được chữ của ông Huấn…)

- Hoạt động 3: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu cảnh Huấn Cao cho chữ Quản ngục- cảnh tượng“xưa nay chưa từng có” với bút pháp chủ đạo là tương phản, đối lập và xây dựng kịch tính.

+ Cảnh: trong buồng giam chật hẹp, bần thỉu, ẩm ướt, đầy phân chuột, phân gián..chứ không phải là một thư phòng thơm tho.

+ Tư thế: một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng đang “dậm tô” những nét chữ trên tấm lụa trắng tinh >

          Có được cảnh tượng như trên vì trong truyện có hai nhân vật chính: một tên phản nghịch nay bị khép vào tội tử tù đang chờ ngày ra pháp trường, nhưng có tài đặc biệt là viết chữ đẹp. Còn người kia là viên quản ngục, rất mê chữ đẹp, kính phục tài năng và khí phách của tử tù, hẳng khao khát có được những nét chữ tài năng của tên tử tù kia. Về phương diện xã hội thì họ là kẻ thù của nhau. Nhưng về phương diện nghệ thuật, với cái Tâm và cái Tài, họ là tri kỉ của nhau. Sự gặp gõ của hai người dã tạo ra một tình huống éo le đầy kịch tính làm nổi bật tính cách của mỗi người…

+ Sức mạnh của cái Đẹp:  ngục tù bẩn thỉu. tăm tối đã làm nền cho cái Đẹp, cái Thiện, cái Cao Cả lên ngôi, xua tan bóng tối nhà tù và bóng tối trong tâm hồn, nhân cách con người. Cảnh nhà tù đã sụp đổ hoàn toàn trước ánh sáng của thiên lương, của tài hoa và khí phách…

- Hoạt động 4: đặt tác phẩm trong phong cách Nguyễn Tuân

          Từ vẻ đẹp đầy kịch tính đó, nhà văn đã xây dựng được một bức tượng đài trang nghiêm để bất tử hóa con người rất mực tài hoa và tràn đầy khí phách anh hùng. Huấn Cao có thể nói là nhân vật đẹp nhất đời văn Nguyễn Tuân. Bởi ở nhân vật này, ta thấy được bóng dáng cái Tôi của Nguyễn Tuân, ngông nghênh, khinh bạc, tự do tự tại. Ta cũng thấy được một cái Đẹp toàn thiện, toàn mĩ mà nhà văn suốt đời theo đuổi, ngưỡng vọng.

Cũng chính con người nghệ sĩ trong Nguyễn Tuân đó giỳp ụng bỏ đi phần kết của truyện này khi in trên báo. Khi truyện in lần đầu trên báo, sau khi nói “Xin bái lĩnh”, viên quản ngục đó nghĩ rằng mỡnh đó cú “lời”, cú “lói” khi biệt đói Huấn Cao và nhận được bức châm do chính tay Huấn Cao viết. Cái kết này đó bị lược bỏ khi truyện được in thành sách và chính sự lược bỏ đó đó làm cho truyện thành cụng hơn, cuốn hút hơn. Truyện cuốn hút vỡ nú là một khối lóng mạn thực sựkhụng bị những ý nghĩ vụ lợi xen vào dự chỉ trong từng chi tiết nhỏ. Đó chính là quan niệm cái Đẹp không gắn liền với cái hữu ích, cái Đẹp đối lập với cái vụ lợi, như Nguyễn Tuân từng nói: “Nghệ thuật là cái mà bọn con buôn coi là vô giá trị...”.

Cú thể núi rằng, những đặc trưng của phương pháp sáng tác lóng mạn chủ nghĩa khụng phải đó tập trung đầy đủ ở đây nhưng nhà văn đó thực sự đem chúng ta đến một thế giới mà trong đó nhân vật lóng mạn vượt lên khỏi hoàn cảnh để sống khác biệt với những tầm thường, tăm tối quanh mỡnh. Cỏi Đẹp, cái Thiện và sự tài hoa đó cựng nhau chõu tuần về đó.

III. Những điều còn để ngỏ

          Văn chương lóng mạn Việt Nam ra đời trong hoàn cảnh lịch sử có nhiều biến động. Tuy cũn nhiều hạn chế nhưng dũng văn chương này như là một luồng gió mới thổi tới, làm tăng thêm sinh khí cho nền văn chương Việt Nam hiện đại. Các tác phẩm văn xuôi được tuyển để dạy và học trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11 là những tác phẩm hay. Phải làm sao đổi mới phương pháp để truyền cái hay của những tác phẩm ấy vào tâm khảm học sinh để khơi dậy từ đáy sâu tầm hồn các em những tỡnh cảm trong sỏng, phong phỳ và những khỏt khao cao cả…

                                                          GIÁO VIÊN: HOÀNG THỊ KIỀU

 

Tác giả bài viết: T.C.H

Tổng số điểm của bài viết là: 1 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
16:39 ICT Thứ sáu, 31/10/2014